Nguồn nhân lực kỹ thuật có giá-Tu nghiệp sinh từ Nhật Bản trở về nước

Nguồn nhân lực kỹ thuật có giá-Tu nghiệp sinh từ Nhật Bản trở về nước:heo đánh giá của Tổ chức Hợp tác đào tạo quốc tế Nhật Bản (JITCO), so với các nước cử tu nghiệp sinh (TNS) đến Nhật Bản, lao động Việt Nam (VN) phát huy tốt hiệu quả của chương trình tu nghiệp, thực hành kỹ thuật tại Nhật Bản. Hiện có khá nhiều TNS trở thành nguồn nhân lực trụ cột của các công ty với vị trí quản lý, phụ trách kỹ thuật, phiên dịch tiếng Nhật…

Sau 3 năm đi tu nghiệp ở Nhật Bản (NB) trở về, anh Nguyễn Xuân Toàn được chọn làm Phó phòng phụ trách xuất khẩu lao động thị trường NB, Hàn Quốc cho Sang NB tu nghiệp được 1 năm, nhờ năng động, nắm bắt công việc nhanh và học tiếng Nhật giỏi, Toàn được công ty ở NB cất nhắc vào vị trí quản lý - phụ giúp giám đốc quản lý lao động VN. 

Anh Toàn ví von rằng 3 năm đi NB tu nghiệp là “thời gian vàng”, tương đương hàng chục năm làm việc ở trong nước. Các TNS Trần Minh Thúy, Nguyễn Thị Thúy Phượng, Nguyễn Thị Ngọc Đặng - trước khi đi tu nghiệp làm công nhân may ở Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Tạp phẩm Sài Gòn (Tocontap Saigon), sau khi hoàn thành chương trình tu nghiệp trở về nước, họ đều được công ty nhận trở lại làm việc ở các vị trí quản đốc phân xưởng kiêm nhiệm việc phiên dịch tiếng Nhật vì công ty làm ăn với đối tác NB. 

Ngoài kiếm được nguồn vốn kha khá (khoảng vài trăm triệu đồng) để cải thiện cuộc sống, giúp đỡ gia đình, theo họ cái được lớn hơn cả chính là tích lũy thêm kiến thức về kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu, rèn luyện tác phong công nghiệp. 

Còn TNS Lâm Thanh Vân nhà ở quận 4 thì bộc bạch một cách chân tình: “Nhờ đi tu nghiệp ở NB, tôi đã đổi đời thật sự. Với vốn tiếng Nhật khá, cộng với kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực điện tử, vừa về nước tôi đã được Công ty Saigon Stec – chi nhánh của Công ty Sharp của NB tại VN (KCN Singapore) nhận vào làm quản lý”.

Trong bối cảnh thị trường lao động ở VN thiếu hụt nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật, nhiều công ty NB đang đầu tư vào VN rất thích nhận lao động VN đã từng sang nước họ tu nghiệp. Bởi lẽ, số lao động này vừa sử dụng thành thạo tiếng Nhật vừa có kỹ năng, tay nghề thành thục, không tốn công sức đào tạo lại như lao động tại chỗ.

Tiếp sức trở thành chủ doanh nghiệp

Nhằm khảo sát, đánh giá hiệu quả của chương trình đưa lao động sang NB tu nghiệp, thực tập kỹ thuật, lần đầu tiên Bộ LĐTB-XH và JITCO đã tổ chức diễn đàn gặp gỡ 40 lao động Việt Nam đã từng tu nghiệp tại NB. Họ là đại diện cho số TNS đang có việc làm ổn định và thu nhập khá cao tại các công ty con của NB tại VN hoặc công ty liên doanh, 100% vốn của NB.

Nhờ có vốn ngoại ngữ tiếng Nhật, họ vừa làm quản lý, phụ trách kỹ thuật, chuyên môn, vừa làm phiên dịch. Bà Lê Thị Thanh Hương, Giám đốc Tocontap Saigon, cho biết: “Sau khi đi tu nghiệp ngành may ở NB trở về, phần đông các em đều trưởng thành về nghề nghiệp, tích lũy được kiến thức, nâng cao trình độ kỹ thuật lẫn kỹ năng thực hành nghề. Vì thế, công ty tin tưởng, bố trí các em vào làm việc ở các vị trí quản lý như chuyền trưởng, quản đốc, phụ trách kỹ thuật hoặc làm phiên dịch tiếng Nhật”. 

Hiện nay, Tocontap đã đưa tổng cộng 500 lao động sang NB tu nghiệp ở ngành may. Là một trong những công ty có thị phần đưa TNS sang NB lớn ở VN, Công ty Suleco đã đưa 3.500 TNS VN đi tu nghiệp, thực tập kỹ thuật ở nhiều ngành nghề khác nhau. Theo ông Trần Quốc Ninh, Giám đốc công ty, trong số TNS trở về nước có khoảng 60% có việc làm ổn định tại các nhà máy trước khi đi hoặc các doanh nghiệp khác; một số trở thành chủ cơ sở sản xuất hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tuy đánh giá cao chương trình hợp tác đưa TNS VN sang NB tu nghiệp nhưng ông Takeshi Kamitani, Phó Chủ tịch JITCO, vẫn lưu ý các công ty phái cử lao động phải thực hiện tốt khâu tuyển chọn và giáo dục định hướng để TNS VN hiểu rõ mục đích của chương trình là tu nghiệp, thực hành kỹ thuật. Sau khi trở về nước, họ sẽ đóng góp hành trang tay nghề kỹ thuật, kỹ năng tích lũy trong thời gian tu nghiệp ở NB cho sự phát triển của đất nước VN.

Ông Đào Công Hải, Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, nhấn mạnh rằng từ mô hình tái sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực kỹ thuật đi NB tu nghiệp nêu trên, sắp tới Bộ LĐTB-XH tiếp tục tiến hành khảo sát, rà soát lại số lao động đi xuất khẩu ở các thị trường khác để tận dụng, phát huy nguồn lực nhân lực xuất khẩu cho mục tiêu hội nhập và phát triển đất nước. Tuy nhiên để nguồn nhân lực kỹ thuật trụ cột này phát huy hiệu quả cao hơn, đóng góp nhiều hơn cho quá trình đổi mới đất nước, bộ sẽ phối hợp với Phòng Thương mại - Công nghiệp ở các địa phương để trợ giúp, hướng dẫn TNS, lao động xuất khẩu về nước trở thành chủ cơ sở, doanh nghiệp vừa và nhỏ. 

Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam:

Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm của thế giới có thể thấy rằng, việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta có ý nghĩa hết sức quan trọng và cũng là yêu cầu bức thiết hiện nay. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 cũng nêu rõ cần tập trung tạo đột phá “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”. Để xây dựng đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp:

Thứ nhất: xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Ngày 19/4/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 579/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 trong đó nêu rõ mỗi bộ, ngành và địa phương phải xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực đồng bộ với chiến lược, kế hoạch phát triển chung của mình. Vấn đề hiện nay là cần hiện thực hóa Chiến lược bằng các biện pháp, hành động cụ thể. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy rõ, coi trọng và quyết tâm thực thi chính sách giáo dục - đào tạo phù hợp là nhân tố quyết định tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển nhanh và bền vững.Thứ hai, song song với việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, phát triển nguồn nhân lực cần đi đôi với xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị của con người trong thời đại hiện nay như trách nhiệm công dân, tinh thần học tập, trau dồi tri thức; có ý thức và năng lực làm chủ bản thân, làm chủ xã hội; sống có nghĩa tình, có văn hóa, có lý tưởng. Đây cũng là những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, rất cần được tiếp tục phát huy trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là đối với thế hệ trẻ.Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân, chính sách lương - thưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Đại hội XI đã đề cập tới việc cụ thể hóa những hoạt động của lĩnh vực này nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh gay gắt và yêu cầu cường độ lao động cao.

Thứ tư, cải thiện và tăng cường thông tin về các nguồn nhân lực theo hướng rộng rãi và dân chủ, làm cho mọi người thấy được tầm quan trọng của vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta và trên thế giới

Thứ năm, cần có sự nghiên cứu, tổng kết thường kỳ về nguồn nhân lực Việt Nam.

Thứ sáu, cần đổi mới tư duy, có cái nhìn mới về con người, nguồn nhân lực Việt Nam./.

Kinh nghiệm từ các nước phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản cho thấy, trước đây họ cũng xuất khẩu lao động và đã tận dụng nguồn vốn nhân lực kỹ thuật này cho quá trình lột xác và hóa rồng của mình. Rất nhiều chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hàn Quốc xuất thân từ hành trình bôn ba xuất khẩu lao động để tích lũy tay nghề, kỹ thuật ở những nền kinh tế tiên tiến hơn, rồi mới về nước làm quản lý. Bài học thành công của họ vẫn còn nguyên giá trị đối với chúng ta.

  • 17/11/2014 09:39
  • www.chamsoccongdong.com
  • 0 nhận xét

Gửi nhận xét