Các bệnh thường gặp ở trẻ em

Một trong những mục tiêu kiến thức chính của chủ đề Con người và sức khoẻ là trang bị cho học sinh những kiến thức liên quan đến một số bệnh thông thường mà trẻ em dễ mắc phải. Phần tài liệu tham khảo này sẽ cung cấp những hiểu biết sâu hơn về các vấn đề liên quan, từ đó giúp giáo viên tự tin hơn khi giảng dạy những bài cụ thể như Bảo vệ mắt và tai (Tự nhiên và Xã hội 1), Phòng chống cong vẹo cột sống (Tự nhiên và Xã hội 2), Phòng bệnh tim mạch (Tự nhiên và Xã hội 3), Phòng bệnh béo phì (Khoa học 4)... .Ngoài ra, giáo viên vừa dạy trẻ biết giữ gìn, bảo vệ sức khỏe cho bản thân vừa có thể có những hỗ trợ kịp thời về mặt y tế, giúp các em tránh được những bệnh tật nguy hiểm.

Bệnh còi xương:- Nguyên nhân: Trẻ bị còi xương là do cơ thể thiếu hụt vitamin D. Điều đó làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, chuyển hóa can-xi và phốt pho (là những chất cần thiết cho sự phát triển của xương). Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là do các bà mẹ kiêng khem quá mức, không cho trẻ ra ngoài, nên trẻ sẽ bị thiếu ánh sáng mặt trời. Bên cạnh đó là một chế độ ăn nghèo can-xi, phốt pho. Những trẻ không được bú sữa mẹ, đẻ non, đẻ sinh đôi, trẻ quá bụ bẫm, trẻ sinh vào mùa đông thường dễ có nguy cơ bị còi xương.

Triệu chứng: Khi bị bệnh, trẻ thường quấy khóc, ngủ không yên giấc, giật mình, ra nhiều mồ hôi lúc ngủ. Theo dõi trẻ thấy xuất hiện rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn, răng mọc chậm, chậm biết lẫy, biết bò, đi, đứng...Các biểu hiện ở xương như thóp rộng, bờ thóp mềm, thóp lâu kín, có các bướu đỉnh, bướu trán hay đầu bẹp cá trê. Nhiều trường hợp trẻ bị còi xương nặng xuất hiện di chứng chuỗi hạt sườn, dô ức gà, chân cong hình chữ X, chữ O...

- Giải pháp: Khi trẻ có những biểu hiện trên, các bà mẹ nên cho trẻ đến cơ sở y tế khám để bác sĩ hướng dẫn bổ sung vitimin D, canxi...cho trẻ. Trẻ em bình thường hằng ngày cũng cần được tắm nắng và ăn thức ăn có đủ chất canxi, phốt pho để phòng bệnh. Một số thực phẩm sẵn có chứa nhiều canxi mà các bà mẹ có thể dùng nấu cho trẻ ăn là vừng đen, rau ngót, rau đay, rau muống, cua, tép khô, ốc, tôm, cá mè, lòng đỏ trứng, hến, sữa bò tươi, sữa chua...

Bệnh uốn ván:Đây là chứng bệnh có thể gây chết người. Nhưng ở Việt Nam đã có thuốc phòng có hiệu quả 100%. Thông thường trẻ sẽ được tiêm ngừa uốn ván vào tháng tuổi thứ hai

- Nguyên nhân: Những vi khuẩn gây bệnh uốn ván ở khắp mọi nơi: trong đất, bụi, phân người và súc vật... Bởi vậy, khả năng nhiễm bệnh đối với mọi người đều rất lớn. Phần lớn trường hợp chỉ vì giẫm phải một cái đinh rỉ, mắc chân vào một sợi dây kẽm gai, bị một cái dằm đâm vào dưới móng tay, bị xước tay vì một đồ chơi cũ đã để lâu ngày... Vết đốt của côn trùng, vết răng của chó, mèo cũng có thể là nơi xâm nhập của loại vi khuẩn uốn ván. Vết thương không cần sâu hay rộng vẫn có thể nhiễm trùng uốn ván.

- Triệu chứng: Trẻ bị uốn ván thường có những biểu hiện: Từ 5 tới 14 ngày sau khi bị nhiễm bệnh (sau khi giẫm phải đinh), đứa trẻ bị cứng bắp thịt, đặc biệt là ở cổ và hàm. Nạn nhân toát mồ hôi, càng ngày càng khó mở miệng, khó nuốt, đau đầu, đau chân tay, người run rẩy, sốt rồi bị co giật hoặc uốn cong người. Trường hợp hiện tượng các bắp thịt bị co cứng lan ra toàn thân, bạn cần chuyển ngay trẻ tới trung tâm y tế.

- Giải pháp: Vì vậy, khi trẻ bị thương, dù vết thương dù to hay nhỏ, bạn cũng cần phải rửa sạch và sát trùng cho bé. Việc có phải tiêm phòng thêm nữa hay không sẽ do bác sĩ quyết định, dù bé đã được tiêm phòng rồi. Ðối với trẻ chưa tiêm ngừa, bạn nên đưa bé đi tiêm phòng và theo dõi việc tiêm cho đủ liều cho trẻ.

Bệnh sởi:- Nguyên nhân: Bệnh do vi rút sởi gây ra và thường gặp ở trẻ trên 1 tuổi. Bệnh sởi có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng ở trẻ em bệnh biểu hiện nặng hơn. Sởi lan truyền do dịch tiết mũi họng của người nhiễm bệnh theo không khí thoát ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi.

Trẻ dưới 12 tháng tuổi nếu không tiêm phòng sởi thì rất dễ mắc. Trẻ được nuôi dưỡng kém, đặc biệt trẻ không được uống vitamin A, sống trong điều kiện đông đúc, và trẻ có hệ miễn dịch giảm do AIDS hoặc các bệnh khác thường mắc sởi nặng.

Những người khỏi bệnh có miễn dịch trong suốt quãng đời còn lại. Trẻ nhỏ có mẹ đã mắc sởi thường có miễn dịch trong 6-8 tháng đầu sau khi sinh.

- Triệu chứng: Giai đoạn ủ bệnh từ 7-18 ngày. Biểu hiện nhiễm trùng đầu tiên là sốt cao kéo dài 1 đến 7 ngày. Giai đoạn này, người bệnh thường chảy nước mũi, ho, mắt đỏ, chảy nước mắt và xuất hiện nốt trắng nhỏ bên trong má. Sau vài ngày sẽ xuất hiện ban, bắt đầu từ mặt, lan xuống tay và chân trong khoảng 3 ngày. Ban kéo dài 5-6 ngày rồi biến mất. Ngoài ra người bệnh có thể chán ăn và tiêu chảy, đặc biệt là trẻ nhỏ.

Thể bệnh nặng hay xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ có thể bị mất nước do tiêu chảy, có thể bị viêm tai giữa, nhiễm trùng đường hô hấp và thanh quản do virus sởi làm giảm hệ miễn dịch.

- Giải pháp: Cách phòng bệnh hiệu quả nhất là tiêm vắcxin sởi cho trẻ. Trẻ em cần tiêm một mũi vắcxin sởi trước khi 1 tuổi. Những trẻ thể bệnh nặng có thể qua khỏi nếu được điều trị thích hợp.Tất cả những trẻ bị sởi nặng cần được uống vitamin A càng sớm càng tốt và uống liều thứ 2 ngay ngày hôm sau. Tăng cường dinh dưỡng và điều trị mất nước bằng đường uống cũng là biện pháp cần thiết giúp trẻ nhanh khỏi bệnh.

Bệnh thủy đậu

- Nguyên nhân: Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây dịch do virút Varicella zoster gây ra. Bệnh thường nhẹ nhưng rất dễ lây.

Người bệnh là nguồn lây duy nhất. Người ốm làm lây bệnh ngay từ khi có triệu chứng đầu tiên cho đến khi nốt đậu đóng vảy (thường ở ngày thứ 7 kể từ khi đậu mọc). Virút từ đờm dãi, nước mũi, nước bọt trẻ ốm bắn sang người lành khi nói, ho hoặc hắt hơi, xâm nhập vào cơ thể qua mũi-họng, rồi theo đường máu đến cư trú ở lớp tế bào thượng bì da và niêm mạc và gây nên những nốt phỏng ở đó.

Tuổi mắc nhiều nhất là 2-7 tuổi, ít khi gặp ở trẻ dưới 6 tháng. Người lớn cũng có thể mắc bệnh nếu như lúc nhỏ chưa mắc.

- Triệu chứng: Sau một thời gian ủ bệnh chừng 14-15 ngày thì bệnh phát. Trong nhiều trường hợp, trẻ vẫn ăn, chơi bình thường làm cho người mẹ không để ý, đến khi đậu mọc mới biết hoặc tình cờ phát hiện được một vài nốt ở đầu.Khi phát bệnh trẻ sẽ có các triệu chứng chóng mặt và sốt nhẹ. Ðặc biệt là trên người nổi mụn, bắt đầu ở thân, rồi đến mặt, quanh miệng và da đầu. Những mụn nhỏ độ vài milimét, có chứa một chất lỏng bên trong, sẽ khô lại sau 48 giờ và hình thành vảy. Chừng 5-6 ngày sau, vảy sẽ bong ra để lại trên da một cái sẹo lâu độ vài tuần. Những mụn nhỏ có chứa virút bên trong nên dễ lây sang người khác. Hiện tượng mụn nổi lên kéo dài 2-3 ngày, gây ngứa khiến các cháu muốn gãi làm xước da, gây nhiễm trùng và các mụn lâu đóng vẩy. Thông thường, sau 15 ngày phát bệnh thì các cháu khỏi.

Thủy đậu là bệnh nhẹ. Trường hợp mụn nổi nhiều, trẻ có thể bị sốt cao nhưng rồi cơn sốt sẽ qua đi. Cũng đôi khi có trường hợp bệnh ảnh hưởng tới vùng tiểu não và hệ thần kinh làm cháu bé đi lảo đảo trong thời gian bệnh đang phát triển. Bệnh có thể kéo dài thêm một ít nhưng cũng khỏi sau vài tuần.

- Giải pháp: Trong thời gian cháu bé bị thủy đậu, việc chính là giữ gìn vệ sinh cho cháu: cắt móng tay và giữ sạch, không để cháu gãi để tránh nhiễm trùng da và lây lan sang cháu khác, mặc quần áo rộng và nhẹ. Không cần xoa phấn và chỉ tắm sau khi đã hết mụn. Nếu cần, chỉ bôi thuốc sát trùng lên những vẩy hoặc mụn to nhất. Bác sĩ có thể cho các cháu uống một ít thuốc an thần để cháu dễ ngủ, khỏi quấy và gãi vì ngứa. Khi khỏi hẳn, bạn mới nên cho trẻ đi học trở lại.

Bệnh tiêu chảy:- Nguyên nhân: Tiêu chảy là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Tiêu chảy gây mất nước và một số chất điện giải như natri, kali…; sau tiêu chảy, trẻ em thường bị suy dinh dưỡng.

- Giải pháp: Khi bé bị tiêu chảy, bạn là người đầu tiên chăm sóc và là người chủ yếu trong việc điều trị trước khi bệnh quá nặng phải đưa đi bệnh viện. Đầu tiên phải nghĩ ngay đến ORS (OralRehydratation Solution: dung dịch bù nước bằng đường miệng). Đây là dung dịch để bù nước và chất điện giải tốt nhất, được sản xuất trong nước dưới dạng gói bột và được bán không cần đơn tại các nhà thuốc tây.

Nếu không có sẵn dung dịch ORS, bạn có thể chắt nước cơm hay nước cháo ra, cứ một chén nước pha với một nhúm muối trong ba ngón tay, cho bé uống thay thế. Nước tinh bột tốt hơn nước đường muối vì vào đến ruột, tinh bột được biến thành glucose từ từ và được hấp thu nhanh chóng nên nồng độ thẩm thấu của dịch ruột được duy trì ở mức an toàn.

Không nên cho bé uống các loại súp công nghiệp, cũng không dùng các loại nuớc hoa quả, giải khát quá ngọt sẽ gây tiêu chảy thẩm thấu.

Trong thời gian trẻ bị tiêu chảy, cần đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ; trẻ còn bú mẹ thì tiếp tục cho bú bình thường; trẻ dưới 6 tháng tuổi nuôi bằng sữa bò thì pha loãng sữa bằng một lượng nước gấp đôi bình thường trong hai ngày, sau đó pha như thường lệ trong suốt thời gian bệnh.Những trẻ đã ăn dặm thì nấu kỹ thức ăn, nhuyễn và hơi lỏng hơn bình thường, cứ 3-4 giờ cho bé ăn một lần, chia làm 6 bữa trong ngày.

Sau khi trẻ hết tiêu chảy, cần phải cho trẻ ăn thêm một bữa mỗi ngày trong hai tuần nhằm phục hồi tình trạng dinh dưỡng cho trẻ. Cần tránh tập quán sai lầm như bắt trẻ nhịn ăn, nhịn uống khi tiêu chảy, chỉ được uống nước gạo rang cầm chừng. Không bắt trẻ kiêng các loại thức ăn giàu năng lượng, bổ dưỡng vì sợ không tiêu.

Nếu sau 2 ngày, tiêu chảy không giảm hoặc bé có một trong các triệu chứng như sốt cao hơn 38°C , môi khô, da khô, khát nhiều nước, ăn kém hay bỏ ăn, đi tiêu ra máu, nôn ói nhiều thì phải mang đi khám ngay.

Đề phòng tiêu chảy ở trẻ em, điều căn bản là sử dụng nước sạch cho sinh hoạt ăn uống, rửa tay trước khi ăn,khi chế biến thức ăn và sau khi đi tiêu. Sử dụng cầu tiêu hợp vệ sinh và xử lý phân trẻ nhỏ an toàn.

 Bệnh bại liệt.:Trước đây, bệnh bại liệt là một bệnh thật đáng sợ vì bệnh có thể gây biến chứng tức thì làm cho không thở được, hoặc sau này làm trẻ em bị teo cơ và bại liệt. Ngày nay, bệnh này gần như không còn ở CÁC NƯỚC MÀ TRẺ EM ÐƯỢC UỐNG THUỐC ngừa hay tiêm phòng bệnh này cùng với một số bệnh khác nữa.

Vậy, nên làm gì đối với các cháu nhỏ nơi còn dịch bệnh? CÓ NHIỀU TRƯỜNG HỢP:

- Trẻ em đã được tiêm phòng bệnh trong vòng 2-3 năm trở lại đây: không phải lo ngại gì.

- Trẻ em mới tiêm một lần: cần tiêm ngay lần nữa hoặc uống thuốc cho đủ liều.

- Trẻ em chưa tiêm hoặc uống thuốc phòng bệnh: đi tiêm và uống thuốc ngay.

Sau ngày tiêm hay uống thuốc 8 ngày, thuốc sẽ có tác dụng. Nhưng cần phải tiêm hoặc uống thuốc tiếp, đúng kỳ hạn, đủ liều lượng.

Các cháu mắc bệnh sẽ có các triệu chứng: nôn ói hoặc các biểu hiện khác của sự rối loạn tiêu hóa, sốt, đau trong chân, trong tay, đau đầu, họng đỏ.

Hãy cho cháu nằm nghỉ và điện thoại ngay cho bác sĩ, hoặc đưa cháu vào bệnh viện.

 Bệnh đậu mùa.:Theo tổ chức sức khỏe thế giới (OMS) thì bệnh đậu mùa ngày NAY GẦN NHƯ KHÔNG CÒN NỮA. ĐÓ là vì việc tiêm phòng bệnh đã được tiến hành trên khắp thế giới và mỗi khi phát hiện bệnh, người ta đã biết cách ly người bệnh, nơi có dịch bệnh với mọi người.

Tuy vậy, ở một số nước có điều kiện vệ sinh kém, chứng bệnh này vẫn có thể xảy ra và chỉ cần một người ở nơi bệnh di chuyển tới nơi khác sẽ làm cho nơi đó có dịch bệnh. Nhưng nhờ có sự kiểm soát ngặt NGHÈO Ở BIÊN GIỚI VỀ Y TẾ nên hiện tượng này cũng ít khi xảy ra. Trên thế giới mỗi lần ở ÐÂU CÓ BỆNH NÀY LÀ NGƯỜI TA LẠI thông báo rộng đi khắp các nơi, và mọi người lại tiêm chủng để phòng BỆNH.

ở Pháp, người ta không còn chủng ngừa bệnh này nữa, nhưng những người di du lịch sang các nước khác vẫn ÐƯỢC KHUYẾN CÁO NÊN TIÊM CHỦNG ÐỂ PHÒNG NGỪA.

CHú ý - Những trẻ em đang bị ngứa dị ứng (eczema) không những không được tiêm phòng bệnh mà cũng không được tiếp xúc với các trẻ em nào vừa tiêm phòng bệnh.

Không tiêm chủng phòng bệnh cho các cháu đang có bệnh ngoài da hoặc bệnh thận, bệnh thần kinh, bệnh đau màng óc, viêm não.

Vắc xin ngừa bệnh đậu mùa đôi khi có thể gây những biến CHỨNG Ở DA VÀ NÃO. ĐẤY cũng là một lý do để người ta không tiêm chủng thường xuyên nữa, khi thấy có thể bỏ qua được.

Thủy đậu.:Thủy đậu là bệnh nổi mụn hay gặp nhất ở trẻ em. Bệnh này rất dễ lây nên hầu như không cháu nào tránh khỏi bệnh. Bệnh này do tiếp xúc trực tiếp, do nước bọt và những vảy mụn. Sau khi tiếp xúc với nguồn lây bệnh từ 14-15 ngày, sẽ có các triệu chứng: chóng mặt và sốt nhẹ. Ðặc biệt là người nổi mụn, bắt đầu ở thân, rồi đến mặt, quanh miệng và da đầu. Những mụn nhỏ độ vài milimét, có chứa một chất lỏng bên trong, sẽ khô lại sau 48 giờ và hình thành một cái vẩy. Chừng 5-6 ngày sau, vẩy sẽ bong ra để lại trên da một cái sẹo lâu độ vài tuần. Những mụn nhỏ có chứa virrút bên trong nên dễ lây sang các cháu khác.

Hiện tượng mụn nổi lên kéo dài 2-3 ngày, gây ngứa khiến các cháu muốn gãi làm xước da, gây nhiễm trùng và các mụn lâu đóng vẩy. Thông thường, sau 15 ngày phát bệnh thì các cháu khỏi.

Thủy đậu là bệnh nhẹ. Trường hợp mụn nổi nhiều, các cháu có thể bị sốt cao nhưng rồi cơn sốt sẽ qua đi. Cũng đôi khi có trường hợp bệnh ảnh hưởng tới vùng tiểu não và hệ thần kinh làm cháu bé đi lảo đảo trong thời gian bệnh đang phát triển. Bệnh có thể kéo dài thêm một ít nhưng cũng khỏi sau vài tuần.

Trong thời gian cháu bé bị thủy đậu, việc chính là giữ gìn vệ sinh cho cháu: cắt móng tay và giữ sạch, không để cháu gãi để tránh nhiễm trùng da và lây lan sang cháu khác, mặc quần áo rộng và nhẹ. Không cần xoa phấn và chỉ tắm sau khi đã hết mụn. Nếu cần, chỉ bôi thuốc sát trùng lên những vẩy hoặc mụn to nhất. Bác sĩ có thể cho các cháu uống một ít thuốc an thần để cháu dễ ngủ, khỏi quấy và gãi vì ngứa.

Khi khỏi hẳn, cháu mới được tới trường hoặc nhà trẻ.

 Bệnh thiếu máu (còn gọi là bần huyết).:Nếu bạn thấy mặt con mình bị tái nhợt, xin chớ vội kết luận cháu bị thiếu máu. Bởi vì nhiều khi mầu da tự nhiên của cháu là như vậy. Tốt nhất là cho cháu tới một bác sĩ.

Màu da chỉ là một phần, cần phải nhìn màu của môi, lợi, lật mí mắt coi bên trong mí: nếu màu sắc các phần này nhợt nhạt thì chắc cháu bé bị thiếu máu rồi. Chứng này còn kèm theo các triệu chứng: mệt mỏi, người có vẻ lờ đờ, uể oải, kém hoạt động, không chịu ăn.

Máu của các cháu kém đỏ hơn bình thường vì thiếu huyết sắc tố, một thành phần quan trọng nhất của hồng cầu có chứa gần như toàn bộ chất sắt trong cơ thể. Huyết sắc tố có nhiệm vụ mang ôxy từ phổi tới các tế bào của các mô.

Các cháu bé từ 4 tháng tuổi trở đi dễ bị mắc bệnh này do việc nuôi dưỡng không đủ chất sắt. Tại sao ? Vì sữa không cung cấp đủ chất sắt cho các cháu.

Vậy tất cả các cháu bé chỉ nuôi bằng sữa đều bị chứng thiếu sắt chăng? Không phải. Khi được sinh ra, các cháu đã mang sẵn trong người một lượng chất sắt cần thiết của mẹ truyền cho rồi. Nhưng, có những trường hợp đặc biệt như các cháu sinh đôi, sinh ba phải cũng chia nhau một lượng chất sắt của mẹ chẳng hạn. Ngoài ra, khi các cháu bị ốm, bị tiêu chảy, bị bệnh thiếu huyết sắc tố do di truyền hoặc uống thuốc làm một số hồng huyết cầu bị tiêu diệt, chán ăn nên lượng sắt được tiếp tế không đủ cho cơ thể. 

Ðối với các cháu bé mới sinh, các bà mẹ nên chú ý tới màu phân của Bé. Nếu màu nhợt nhạt là có vấn đề!

  • 12/07/2014 05:45
  • chamsoccongdong.com
  • 0 nhận xét

Gửi nhận xét