Đề phòng bệnh viêm não, màng não do não mô cầu

Gần đây, Bộ Y tế đưa ra thông báo về bệnh viêm màng não gây ra do não mô cầu. Hầu hết các báo và các trang mạng đều đăng hoặc đặng lại các bài viết về viêm màng não mũ do não mô cầu. Ở đây, chỉ xin nhắc lại một số chi tiết quan trọng mà các bạn có thể không tìm thấy ở những bản tin khác.

1. Vấn đề người lành mang trùng và việc phòng ngừa bệnh
Vi khuẩn gây bệnh là Neisseria Menigitidis, có hơn 13 nhóm nhỏ trong đó 6 nhóm gây bệnh chính là A, B, C, W135, X và Y. Bệnh cảnh thể hiện dưới 3 dạng khác nhau: viêm hầu họng đơn thuần, nhiễm khuẩn huyết và viêm màng não mủ.
Bệnh lây truyền trực tiếp qua đường hô hấp do hít phải những giọt nhỏ dịch tiết mũi họng của người nhiễm bệnh và có thể bùng phát thành dịch. Bệnh cũng có thể lây gián tiếp qua tiếp xúc trên da hay qua các đồ dùng, dụng cụ hàng ngày như  ly, tách, điện thoại….Các môi trường  tiếp xúc gần gũi như các khu tập thể, khu cắm trại, trường học có nguy cơ gây lây truyền cao.Bệnh viêm não mô cầu là gì?
Bệnh viêm não, viêm màng não do não mô cầu (gọi gọn là "viêm não mô cầu") là 1 bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi khuẩn Neisseria meningtidis gây nên.
Khác với các bệnh viêm màng não do virus khác, nó có thể lấy đi sinh mạng của người đang khỏe mạnh chỉ trong vòng 24 giờ sau những triệu chứng đầu tiên xuất hiện.
Loại vi khuẩn này cư trú ở vùng hầu họng con người (ổ chứa duy nhất).
Vi khuẩn gây bệnh trên toàn thế giới phần lớn do type A, B, C, W135 và Y...
Bệnh có thể xảy ra khắp nơi, dễ gây thành dịch do dễ lây lan.
Tất cả mọi người khỏe mạnh ở các lứa tuổi khác nhau đều có thể mắc bệnh viêm màng não mô cầu, nhưng hay gặp nhất ở trẻ nhỏ từ 3 tháng đến 5 tuổi và nhóm tuổi thanh, thiếu niên từ 14-20 tuổi.Tỉ lệ mắc bệnh ở trẻ em dưới 2 tuổi chiếm rất cao, khoảng 50%, trong khi đó ở người lớn khoảng 25%.
Bệnh thường xảy ra ở những nơi đông người, điều kiện sống chật chội, kém vệ sinh, thường vào những tháng mùa lạnh và lúc giao mùa.
Ở Việt Nam, bệnh xuất hiện quanh năm, thời điểm thuận lợi có nguy cơ xảy ra dịch thường vào mùa thu, đông và xuân.
Nguyên nhân và đường lây truyền viêm não mô cầu
Vi khuẩn não mô cầu là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh viêm màng não do vi khuẩn ở trẻ em, và là nguyên nhân hàng đầu của bệnh viêm màng não do vi khuẩn ở người lớn (phân biệt với viêm màng não do virus).Ổ chứa vi khuẩn não mô cầu là ở người, do vậy nguồn lây bệnh chủ yếu là bệnh nhân viêm não mô cầu, và người lành mang vi khuẩn (mang vi trùng nhưng không mắc bệnh, vi trùng thường trú ở vùng họng mũi).
Bệnh lây qua đường hô hấp do hít phải các giọt bắn của dịch tiết hô hấp có chứa mầm bệnh từ người bị nhiễm trùng ở giai đoạn ủ bệnh hay phát bệnh.
Bệnh cũng có thể lây gián tiếp qua tiếp xúc trên da hay qua đồ dùng, dụng cụ hàng ngày như ly, tách, điện thoại.
May mắn là những vi khuẩn này không phải là truyền nhiễm như vi khuẩn gây cảm lạnh hay cảm cúm, tức là không lây qua tiếp xúc thông thường hoặc bằng cách hít thở không khí.
Đôi khi vi khuẩn Neisseria meningitidis lây lan cho những người đã tiếp xúc gần hoặc tiếp xúc kéo dài với một bệnh nhân mắc bệnh viêm màng não.
Những người trong cùng một gia đình, bạn cùng phòng, hoặc bất cứ ai có liên hệ trực tiếp với các chất dịch của bệnh nhân sẽ được coi là có nguy cơ bị nhiễm khuẩn.
Các môi trường tiếp xúc gần gũi như khu tập thể, khu cắm trại, trường học là những nơi có nguy cơ gây lây truyền cao.Trong điều kiện bình thường, có khoảng 5-10% dân số có mang vi khuẩn Neisseria Meningitidis ở vùng hầu họng nhưng không có biểu hiện bệnh lý. Trong số này có thể có chủng gây bệnh hoặc chủng lành tính. Tuy người mang khuẩn không có biểu hiện bệnh lý nhưng trong một số trường hợp, việc lây nhiễm vi khuẩn này sang người khác có thể là nguyên nhân khởi phát bệnh. Việc lây truyền trên lý thuyết không thật sự dễ dàng trên thực tế. Chỉ có khoảng 3-4% người sống chung nhà với bệnh nhân nhiễm não mô cầu bị nhiễm thứ phát. Tuy nhiên, nếu ca bệnh đã được khẳng định thì việc phòng ngừa bằng thuốc cần được tiến hành ngay trên các đối tượng có tiếp xúc  với bệnh nhân trong vòng vài ngày đầu sau khi phát bệnh.
Phòng ngừa bằng kháng sinh chỉ có hiệu quả trong những ngày đầu tiên bị phơi nhiễm, có thể dùng ciprofloxacin 500mg liều duy nhất hoặc Azithromycine 10mg/kg (tối đa 500mg) liều duy nhất. Sau 14 ngày, việc phòng ngừa bằng kháng sinh trở nên vô hiệu hoặc vô ích.
Các loại vaccine chỉ giúp phòng ngừa khoảng 85-90% các trường hợp, chưa kể đến việc phức tạp trong chọn lựa các loại phân nhóm để sử dụng. Trong khi đang có dịch, việc chú ý đến các biện pháp vệ sinh cá nhân cũng tỏ ra hữu hiệu để phòng ngừa lây gián tiếp.
  Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sát khuẩn
  Súc miệng, họng bằng các dung dịch sát khuẩn mũi họng thông thường.
   Tránh chạm tay vào miệng, mũi và mắt
   Tránh các tiếp xúc gần gũi với người khác, nếu có thể.
   Tránh ăn uống chung và sử dụng chung đồ dùng.
 Nếu bạn có triệu chứng nhiễm bệnh hãy đến ngay các cơ sở y tế.
Nếu ở các cơ sở y tế, việc sử dụng các dung dịch khử khuẩn tay trước và sau tiếp xúc với mỗi ca bệnh giúp hạn chế việc lây nhiễm từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác.
2. Vấn đề chích ngừa
Các ệnh nhiễm trùng có thể phòng ngừa bằng tiêm vaccine. Tuy nhiên, việc tiêm vaccine phù hợp lại là những vấn đề khác. Cho đến nay, chưa có loại vaccine nào đảm bảo gây miễn dịch đủ cùng lúc cho cả 6 loại vi khuẩn não mô cầu A,B,C,X,Y và W135. Việc chọn lựa vaccine thường dựa vào đặc điểm của vùng dịch tể để có loại phù hợp.
Trên thị trường hiện nay có loại vaccine nhị liên cho nhóm A,C như Mevac AC hoặc nhóm C và Y kèm Hib như MenHibrix.
Ngoài ra, có loại tứ liên có tác dụng gây miễn dịch cho 4 nhóm A,C,Y và W-135, có thể là loại polysaccaride như  Menomune, hoặc là loại conjugate như Menactra, Menveo.
Vaccine chuyên dành cho nhóm B chỉ mới được đưa vào sử dụng gần đây: Bexsero và Trumenba.
Ở Việt Nam cũng có dạng vaccine kết hợp cho hai nhóm B và C: VA-Mengoc BC.
Cần chú ý:Phòng ngừa bệnh viêm màng não do não mô cầu
-Vaccine nhóm nào chỉ có thể phòng ngừa nhóm đó và không có tác dụng phòng ngừa chéo cho các nhóm khác. Ở vùng đông nam Á, nhóm A là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất. Ở Việt Nam, một số ca gây bệnh nhóm B và C đã được ghi nhận.Khá nhiều trang mạng ghi nhận không có vaccine phòng ngừa nhóm B. Điều này hiện nay không đúng vì vaccine nhóm B mới được đưa vào sử dụng gần đây. Trumenba được FDA Mỹ cấp phép vào tháng 10/2014 và Bexsero được cấp phép vào tháng 1/2015. Ở Việt Nam, để đảm bảo phòng ngừa cả ba nhóm A,B,C, phải chủng ngừa cả hai loại vaccine.
-Vaccine não mô cầu A-C nằm trong lịch tiêm chủng quốc gia nhưng thuộc nhóm không bắt buộc và có thể phải trả chi phí thêm. Việc chủng ngừa thường được thực hiện lúc 18 tháng tuổi và lập lại mỗi 3 năm.
Do bệnh có thể xảy ra ở nhiều độ tuổi, việc chủng ngừa có thể áp dụng cho cả trẻ em lẫn người lớn. 
3. ấn đề chẩn đoán sớm
Việc chẩn đoán và điều trị não mô cầu đã được Bộ Y tế ra văn bản hướng dẫn. Điều cần nhấn mạnh là bệnh lý gây ra do não mô cầu có thể rất nặng, diễn tiến nhanh và có thể đưa đến tử vong trong vòng 24 giờ sau khi phát bệnh. Do đó, việc chờ đợi những triệu chứng điển hình như ban xuất huyết hay cứng cổ có thể là quá trễ. Mặt khác, việc soi/cấy ra vi khuẩn không giúp phân biệt được người mang khuẩn hay bệnh nhân thực sự. Do đó, chẩn đoán sớm chủ yếu dựa vào yếu tố dịch tể học và kinh nghiệm của bác sĩ lâm sàng.
Về phía bệnh nhân, cần biết là có khá nhiều trường hợp nhiễm siêu vi khác có biểu hiện tương tự nhưng diễn tiến và dự hậu khác rất nhiều. Trên nguyên tắc, khi một người có các biểu hiện sốt, nhức đầu, việc tự điều trị bằng các thuốc cảm sốt không ghi toa (OTC) là hợp lý và bệnh nhân luôn được khuyên là đi khám bác sĩ nếu triệu chứng không thuyên giảm sau 48-72 giờ. Tuy nhiên, trong trường hợp nhiễm não mô cầu, đây có thể là khoảng thời gian vàng trong điều trị để ngăn ngừa các biến chứng nặng. Vì thế, không nên chần chừ khi có nghi vấn, đặc biệt khi có yếu tố nguy cơ tiếp xúc bệnh nhân trước đó. Viêm màng não mô cầu
Đối tượng lây nhiễm của bệnh viêm màng não mô cầu là tất cả mọi người, đặc biệt là trẻ em dưới 3 tuổi và thanh thiếu niên từ 14-20 tuổi. Triệu chứng của bệnh viêm màng não mô cầu là sốt cao, đau đầu, buồn nôn và nôn, cổ cứng, nhạy cảm với ánh sáng, lơ mơ. Thời gian ủ bệnh của viêm màng não mô cầu chỉ từ vài giờ đến vài ngày và diễn biến bệnh rất nhanh nên nếu kịp thời điều trị, có thể nguy hiểm đến tính mạng. 
Do đặc tính biểu hiện của bệnh viêm màng não mô cầu có những nét giống dấu hiệu bệnh viêm não Nhật Bản; Sốt xuất huyết; Sốt phát ban… Vì vậy để phân biệt và đưa bệnh nhân đến các cơ sở cấp cứu kịp thời rất quan trọng.
Các chuyên gia y tế khuyến cáo, những người có biểu hiện sốt cao, nhức đầu, nôn mửa, cứng cổ… nên nhanh chóng đến các cơ sở y tế để xét nghiệm và phát hiện bệnh sớm nhất có thể.   
TS.BS Võ Xuân Quang
Phòng khám Đa khoa Quốc tế Yersin

Nguồn tin Chamsoccongdong.com

Gửi nhận xét